Thứ Ba, 1 tháng 9, 2015

Tại sao Nhật Bản cần tuyển dụng số lượng lớn lao động làm nông nghiệp?

Ngành nông nghiệp Nhật Bản đang đứng trước nguy cơ thiếu hụt trầm trọng nguồn lao động trong lĩnh vực nông nghiệp trong những thập niên sắp tới, bởi đa số người lao động đang làm việc đều là những người cao tuổi, độ tuổi gần 70. Do đó Nhật Bản đang có nhiều chính sách thay đổi nhằm thu hút nguồn lao động trẻ cũng như nguồn lao động ngoài nước đến từ nhiều quốc gia như Việt Nam, Trung Quốc, Malaysia…để đáp ứng nhu cầu trong sản xuất và phát triển nông nghiệp.

Anh Kakuzaki Makoto, 27 tuổi, là một trong số ít người nông dân đang ở độ tuổi thanh niên ở khu Asahi (tỉnh Chiba, Nhật Bản). Sau khi tốt nghiệp cao đẳng, anh về nhà học phương pháp trồng cà chua của gia đình cho biết:  “Đối với tôi, việc trồng được những quả cà chua ngon và đem đến cho người tiêu dùng là một công việc rất thú vị. Tôi rất hạnh phúc khi được mọi người đánh giá cao thành quả của mình”.
Tuy nhiên những trường hợp như anh Kakuzaki đang trở nên hiếm hoi tại đất nước Nhật Bản. Lao động nông nghiệp đang lão hóa nhanh chóng, với độ tuổi trung bình của ngành nông nghiệp năm 2013 đã lên tới 66 tuổi, cao hơn cả độ tuổi về hưu do Chính phủ quy định. Và nhiều người nông dân vẫn tiếp tục làm việc ở độ tuổi trên 80.

Chính phủ Nhật Bản đã đề ra chiến lược tăng gấp đôi thu nhập của khu vực nông thôn trong vòng 10 năm tới, từ 3.000 tỷ Yen lên 6.000 tỷ Yen (tương đương 60 tỷ USD) nhằm thu hút lao động trẻ vào lĩnh vực nông nghiệp. Theo kế hoạch này, Nhật Bản sẽ đẩy mạnh xuất khẩu nông sản, đặc biệt là rau quả và các loại thực phẩm chế biến thông qua Hiệp định đối tác thương mại chiến lược xuyên Thái Bình Dương TPP mà nước này đang đàm phán gia nhập.
Chính điều này mở ra cơ hội rất lớn cho nguồn lao động Việt Nam có mong muốn đi xuất khẩu lao động Nhật Bản trong lĩnh vực nông nghiệp. Theo ông Kensuke Tsuzuki – Phó chủ tịch Jitco: Nhật Bản đang có nhu cầu cao trong việc tiếp nhận thực tập sinh ngành nông nghiệp, việc  tiếp nhận lao động nước ngoài trong ngành này đang là mối quan tâm của nhiều doanh nghiệp Nhật Bản.
Theo đánh giá của Jitco thì ngành nông nghiệp này khá phù hợp với lao động Việt Nam và Jitco mong muốn trong nhiều năm sắp tới, sẽ thúc đẩy hợp tác với Việt Nam để tăng tỉ lệ thực tập sinh Việt Nam sang Nhật trong lĩnh vực nông nghiệp.

Văn bản quy định mức tiền môi giới người lao động phải trả cho một số thị trường

     

Ngày 12/8/2008, Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã ban hành Quyết định số 61/2008/QĐ-BLĐTBXH về mức tiền môi giới người lao động hoàn trả cho doanh nghiệp tại một số thị trường.
Theo đó, mức tiền môi giới tối đa người lao động hoàn trả cho doanh nghiệp tại thị trường Đài Loan là từ 800 - 1500 USD/người/hợp đồng áp dụng đối với ngành nghề: công nhân nhà máy, xây dựng, giúp việc gia đình, chăm sóc sức khoẻ; thị trường Nhật Bản là 1500 USD áp dụng đối với mọi ngành nghề; Malaysia: 200 - 300 USD; Ảrập Xê út: 300 - 500 USD; Liên bang Nga: 700 USD; Cộng hoà Czech: 1500 USD; Australia: 3000 USD; Nhà nước Qatar, Các Tiểu Vương quốc Ả rập thống nhất, Vương quốc Bahrain, Vương quốc Oman; Nhà nước Kuwait: 300 - 400 USD...
Mức tiền môi giới người lao động hoàn trả cho doanh nghiệp (nếu có) phải được ghi rõ trong hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và doanh nghiệp được thu một lần trước khi người lao động xuất cảnh ra nước ngoài làm việc...
Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.
QUYẾT ĐỊNH CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH SỐ 61/2008/QĐ-LĐTBXH NGÀY 12 THÁNG 08 NĂM 2008 VỀ MỨC TIỀN MÔI GIỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG HOÀN TRẢ CHO DOANH NGHIỆP TẠI MỘT SỐ THỊ TRƯỜNG
BỘ TRƯỞNG BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
Căn cứ Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng số 72/2006/QH11 ngày 29/11/2006 của Quốc Hội khoá XI, kỳ họp thứ 10;
Căn cứ Nghị định số 186/2007/NĐ-CP ngày 25/12/2007 của Chính phủ về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội;
Căn cứ Thông tư Liên tịch số 16/2007/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 04/09/2007 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ Tài chính, quy định cụ thể về tiền môi giới và tiền dịch vụ trong hoạt động đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này: Quy định về mức tiền môi giới tối đa người lao động hoàn trả cho doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (sau đây gọi tắt là doanh nghiệp) tại một số thị trường theo Phụ lục đính kèm.
Điều 2. Căn cứ vào mức tiền môi giới tối đa người lao động hoàn trả cho doanh nghiệp quy định tại Quyết định này, doanh nghiệp thoả thuận với người lao động mức tiền môi giới cụ thể người lao động hoàn trả cho doanh nghiệp.
Điều 3. Mức tiền môi giới người lao động hoàn trả cho doanh nghiệp ( nếu có ) phải được ghi rõ trong hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và doanh nghiệp được thu một lần trước khi người lao động xuất cảnh ra nước ngoài làm việc.
Điều 4. Việc thu nộp, quản lý và sử dụng tiền môi giới người lao động hoàn trả cho doanh nghiệp được thực hiện theo quy định tại Thông tư Liên tịch số 16/2007/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 04/09/2007 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ Tài chính quy định cụ thể về tiền môi giới và tiền dịch vụ trong hoạt động đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Điều 5. Cục Quản lý lao động ngoài nước có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện Quyết định này của doanh nghiệp và xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.
Điều 6. Quyết định này thay thế Quyết định số 05/2007/QĐ-BLĐTBXH ngày 17/01/2007 của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định mức phí môi giới xuất khẩu lao động tại một số thị trường, có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày đăng công báo và áp dụng đối với các hợp đồng đăng ký thực hiện tại Cục Quản lý lao động ngoài nước kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực.
Điều 7. Chánh Văn phòng Bộ, Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch – Tài chính, Giám đốc các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và Thủ trưởng các đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành quyết định này./.
KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Nguyễn Thanh Hòa
MỨC TIỀN MÔI GIỚI
ĐÀI LOAN    
1    Công nhân nhà máy, xây dựng    1.500 USD
2    GVGĐ, chăm sóc sức khỏe    800 USD
3    Thuyền viên tàu cá xa bờ    Không
MALAYSIA  
4    Lao động nam    300 USD
5    Lao động nữ    250 USD
6    Lao động làm cho Công ty Outsourcing    200 USD
7    Lao động làm việc tại gia đình    Không
NHẬT BẢN  
8    Mọi ngành nghề    1.500 USD
HÀN QUỐC  
9    Thực tập viên trên tàu cá (gần bờ)    500 USD
BRUNEI  
10    Công nhân nhà máy, nông nghiệp    250 USD
11    Công nhân xây dựng    350 USD
12    Dịch vụ    300 USD
13    Lao động làm việc tại gia đình    200 USD
MACAU  
14    Công nhân xây dựng    1.500 USD
15    Lao động làm việc tại gia đình    400 USD
16    Dịch vụ bảo vệ, vệ sinh    700 USD
17    Dịch vụ nhà hàng, khách sạn    1.000 USD
MALDIVES  
18    Mọi ngành nghề    500 USD
Ả RẬP XÊ ÚT  
19    Lao động không nghề    300 USD
20    Lao động có nghề    500 USD
21    Lao động làm việc tại gia đình    Không
NHÀ NƯỚC QATAR  
22    Lao động không nghề    300 USD
23    Lao động có nghề, bán lành nghề    400 USD
CÁC TIỂU VƯƠNG QUỐC Ả RẬP THỐNG NHẤT (UAE)  
24    Lao động không nghề    300 USD
25    Lao động có nghề, bán lành nghề    400 USD
VƯƠNG QUỐC BAHRAIN  
26    Lao động không nghề    300 USD
27    Lao động có nghề, bán lành nghề    400 USD
VƯƠNG QUỐC OMAN  
28    Lao động không nghề    300 USD
29    Lao động có nghề, bán lành nghề    400 USD
VƯƠNG QUỐC JORDAN  
30    Mọi ngành nghề    400 USD
NHÀ NƯỚC KWAIT  
31    Lao động không nghề    300 USD
32    Lao động có nghề, bán lành nghề    400 USD
ALGERIA  
33    Mọi ngành nghề    200 USD
AUSTRALIA  
34    Mọi ngành nghề    3.000 USD
CỘNG HÒA CZECH  
35    Mọi ngành nghề    1.500 USD
CỘNG HÒA SLOVAKIA  
36    Mọi ngành nghề    1.000 USD
BALAN  
37    Mọi ngành nghề    1.000 USD
CỘNG HÒA BUNGARIA  
38    Mọi ngành nghề    500 USD
LIÊN BANG NGA  
39    Mọi ngành nghề    700 USD
UCRAINA  
40    Mọi ngành nghề    700 USD
BELARUSIA  
41    Mọi ngành nghề    700 USD
CỘNG HÒA LATVIA  
42    Mọi ngành nghề    700 USD
CỘNG HÒA LITVA  
43    Mọi ngành nghề    700 USD
CỘNG HÒA ESTONIA  
44    Mọi ngành nghề    700 USD
CỘNG HÒA SÍP  
45    Lao động làm việc tại gia đình    350 USD

Chính sách ưu tiên cho phụ nữ đi xuất khẩu lao động

Với những thành công đạt được chúng ta có thể khẳng định rằng xuất khẩu lao động Nhật Bản là hoạt động giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo hiệu quả nhất hiện nay. Về lý thuyết thì hoạt động này dành cho tất cả mọi người có độ tuổi từ 18 - 35 tuy nhiên thực tế cho thấy hiện nay số lượng nam giới đi XKLD vẫn chiếm số lượng lớn hơn, trong khi đó lao động nữ trong những năm gần đây số lượng đi xuất khẩu lao động đã tăng đáng kể nhưng vẫn ở mức thấp.

Cần có những chính sách ưu tiên cho phụ nữ khi đi xuất khẩu lao động
Trung bình mỗi năm cả nước có trên 100 nghìn người đi xuất khẩu lao động tại những thị trường như: Đài Loan, Nhật Bản, Châu Âu, Úc...trong đó phụ tỉ lệ phụ nữ chỉ chiếm khoảng 30 đến 35%.
Mới đây bộ lao động thương binh và xã hội đã tổ chức diễn đàn đối thoại về chính sách vảo về quyền lợi cho lao động nữ đi xuất khẩu lao động, một trong những vấn đề được rất nhiều đại  biểu quan tâm đó là làm sao để có thể tạo cơ hội việc làm cho cả nam và nữ một cách bình đẳng nhất.
Để thực hiện tốt vấn đề này thực sự không phải là điều đơn giản Để làm được điều này là điều không hề đơn giản mặc dù số lượng lao động nữ trong những năm gần đây có tăng nhiều tuy nhiên so với nam giới thì phụ nữ đi xuất khẩu lao động sẽ gặp khó khăn và phải đối mặt với nhiêu nguy cơ tiềm ẩn hơn như việc bị bóc lột, bạo lực, xâm hại...
Trước tình hình này việc cho ra những chính sách ưu tiên dành cho phụ nữ là hết sức cần thiết, trong cuộc hội thảo rất nhiều đại biểu cũng có những đóng góp tích cực nhằm nâng cao sự phối hợp giữa các cơ quan ban ngành, doanh nghiệp nhằm đưa ra những cơ chế, chính sách, ưu đãi cụ thể dành cho các bạn nữ khi đi xuất khẩu lao động Nhật Bản và những thị trường khác.
Khi thực hiện hiệu quả những chính sách mới chắc chắn sẽ tạo được những thay đổi không hề nhỏ đối với lĩnh vực xuất khẩu lao động trên cả nước.

Nhật Bản khát nguồn lao động nước ngoài

Để có thể phục vụ cho việc tái thiết đất nước sau thảm họa động đất, song thần cũng như xây dựng các công trình phục vụ Thế vận hội 2020, Nhật Bản hiện đang cần khoảng 150.000 lao động  để thực hiện điều này.
Theo ước tính của Bộ Đất đai - Cơ sở hạ tầng - Giao thông và Du lịch Nhật Bản, nước này cần đến 50.000 lao động nước ngoài trong lĩnh vực này.
Một trong những ngành khát nhân sự nhất ở Nhật Bản hiện nay là ngành y tá. Nhật Bản đã ký với Indonesia và Phillipines những thỏa thuận nhận 1.000 thực tập sinh y tá để làm việc tại nước này. Do dân số già ngày càng tăng mà theo quy định ở Nhật Bản, một điều dưỡng, y tá chỉ có thể chăm sóc tối đa 7 bệnh nhân nên việc bổ sung gấp nguồn lực này là điều vô cùng cấp thiết.
Lớp tuyển chọn y tá xuất khẩu

  Cuối tháng 9/2014, Nhật Bản nới lỏng thủ tục cấp thị thực nhập cảnh cho công dân 3 nước Indonesia, Philippines, Việt Nam. Theo đó, thời gian có hiệu lực của thị thực nâng từ từ 3 năm lên 5 năm. Trong kế hoạch cải tổ bộ máy kinh tế đất nước, Thủ tướng Abe nhắm đến việc phải nhờ đến lao động nước ngoài để chia sẻ, nhất là ở những lĩnh vực công nghiệp nặng, xây dựng, đòi hỏi số lượng lớn lao động kỹ thuật.
Bên cạnh đó, xuất phát từ nhu cầu Nhật Bản cần tìm kiếm thị trường để xuất khẩu các sản phẩm của mình, doanh nghiệp nước này vẫn tuyển lao động nước ngoài làm việc tại Nhật.  
Ngày 15/1, ông Kensuke Ryuzoji, Chủ tịch công ty Honda Kiko chuyên về thiết lập hệ thống làm sạch môi trường, chia sẻ rằng, công ty ông thuê 14 lao động nước ngoài. Họ chính là cầu nối hiệu quả với các đối tác ở quê hương. Rào cản ngôn ngữ được thu hẹp khiến việc giao dịch hết sức thuận lợi. Ông Kensuke cho biết: “Chúng ta không thể duy trì mãi suy nghĩ làm ăn cục bộ, địa phương. Không chỉ chú trọng vào sản xuất mà điều quan trọng hơn cả là phải tìm thị trường”.

Nhật Bản – miền đất hứa cho các bạn trẻ nước ngoài

Nhật Bản có nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới trên nhiều lĩnh vực, từ tài chính – ngân hàng cho đến công nghiệp, nông nghiệp và phát triển khoa học kỹ thuật. Do đó, Nhật Bản trở thành miền đất hứa cho các bạn trẻ đam mê kinh doanh, tự khẳng định bản thân mình, đặc biệt là các bạn trẻ nước ngoài sang Nhật du học, làm việc, xuất khẩu lao động…
Đặng Thái Cẩm Ly – du học sinh Việt Nam 29 tuổi ở Nhật Bản, vấn đề tài chính lại là một trở ngại đối với du học sinh vì rất khó chuyển tiền từ Việt Nam sang Nhật Bản. Mặc dù vậy, cuối cùng thì cô cũng đã có thể hoàn tất luận văn và giờ đang hy vọng sẽ mở một quán ăn Việt Nam ở Nhật Bản. Cô nói: “Tôi nghĩ thị trường Nhật Bản khá tiềm năng và đem lại nhiều cơ hội.”
Quản lý tại Công ty Acroseed có trụ sở ở Tokyo, một công ty chuyên tư vấn về lao động nước ngoài, anh Masashi Miyagawa cho biết: “Một số sinh viên nước ngoài phải mất thời gian vừa mới tốt nghiệp đại học để tìm nguồn vốn kinh doanh.”
Ngoài vấn đề tiền, thuê một văn phòng cũng là một thách thức khác đối với các doanh nhân khi số ít chủ nhà đất quan tâm đến việc cho thuê không gian cho những người nước ngoài khởi nghiệp mà việc kinh doanh của họ còn chưa bắt đầu. Bất chấp những thách thức này, ngày càng có nhiều sinh viên nước ngoài, đặc biệt là từ châu Á, không còn thói quen lao ra ngoài tìm kiếm việc làm như trước đây hay trở về nhà sau khi tốt nghiệp mà thay vào đó, họ tìm cách để vượt qua chính bản thân mình.
Hãng tin Kyodo dẫn số liệu của Bộ Tư pháp Nhật Bản cho biết số lượng các sinh viên nước ngoài đã chuyển đổi thành công thị thực của họ sang nhà đầu tư hay giám đốc kinh doanh lên tới 321 người trong năm 2013, tăng gấp 5 lần so với 61 người năm 2007.
Liên quan đến nguyên nhân của hiện tượng này, ông Hirokazu Hasegawa, Giáo sư Trường Kinh doanh Waseda ở Tokyo, cho rằng môi trường kinh doanh ở Nhật Bản hấp dẫn hơn cho những người khởi nghiệp so với một số quốc gia châu Á. Giáo sư Hasegawa nói: “Khi Internet và các cơ hội kinh doanh liên quan đến công nghệ vẫn bị giới hạn ở một số nước châu Á, nhiều sinh viên nước ngoài ở châu Á muốn học cách thức lập kế hoạch kinh doanh ở Nhật Bản.”
Một trong số các sinh viên của Giáo sư Hasegawa đến từ Trung Quốc ủng hộ quan điểm này. Sinh viên người Trung Quốc, Vương Lộ, chia sẻ: “Nhật Bản có công nghệ thương mại điện tử tiên tiến mà tôi muốn học hỏi và thủ tục để xin khởi nghiệp cũng ít rầy rà hơn so với ở đất nước tôi.”
Anh Vương, 31 tuổi, là một kỹ sư của Công ty Fujitsu nhưng đã ghi danh theo học tại trường kinh doanh để phấn đấu chứng chỉ MBA và sẽ là nhà đồng sáng lập một công ty thương mại điện tử vào tháng Tám tới. Anh bị thôi thúc bởi khát vọng bắt đầu một cái gì đó mới hơn là theo đuổi một nghề nghiệp tại một tập đoàn đã có sẵn và gắn bó với một việc nào đó cả đời.
Tuy nhiên, nếu không có những bài học mà anh có được tại ngôi trường này, anh đã không thể có cảm hứng thành lập công ty mang tên MIJ Corp của riêng mình. Công ty của anh dự kiến sẽ cung cấp một nền tảng liên kết những người Trung Quốc tìm kiếm các sản phẩm ở Nhật Bản để cung cấp cho giới nhà giàu mới nổi ở nước này. Anh nói: “Ban đầu, các bạn cùng lớp của tôi có một ý tưởng kinh doanh mà tôi thấy thực sự thú vị sau đó chúng tôi triển khai ý tưởng và nhận được sự phản hồi từ các giáo sư và những người khác. Sau cùng thì chúng tôi đã cùng nhau sáng lập công ty sau khi ra trường.”

  Một số doanh nhân nước ngoài khác thì nhận được sự ủng hộ từ các vườn ươm kinh doanh Nhật Bản. Chị Lee Hyeok, một sinh viên Hàn Quốc, đang điều hành công ty Deview Communications Inc., một công ty liên quan đến giáo dục, ở Tokyo khoảng 4 tháng qua. Công ty của chị Lee thuê một văn phòng ở đảo Samurai Startup tại một quận cung cấp văn phòng giá rẻ ở khu đất mới trên Vịnh Tokyo.
Tại một góc trên hòn đảo này, hàng chục doanh nhân trẻ ngồi cùng nhau trên những chiếc bàn gỗ để trao đổi về các ý tưởng kinh doanh trong khi người khác thì đang kỳ cạch gõ bàn phím. Đây là nơi được chị Lee lập nên để tạo không gian cùng làm việc và đôi khi cũng là để cho những người mới khởi nghiệp trò chuyện với nhau.
Chính phủ Nhật Bản hiện đang tìm cách khuyến khích người nước ngoài bắt đầu hoạt động kinh doanh bằng cách nới lỏng các đòi hỏi về thị thực ở các đặc khu kinh tế. Đây được coi là một phần trong chiến lược tăng trưởng của Thủ tướng Shinzo Abe nhằm tái sinh nền kinh tế Nhật Bản trong bối cảnh nước này đang đối mặt với tình trạng giảm tỷ lệ sinh và xã hội già hoá.
Chính phủ nước này đã đệ trình một dự luật lên quốc hội hồi cuối tháng 10/2014 nhằm sửa đổi luật về đặc khu kinh tế. Kế hoạch trên đã bị huỷ bỏ khi Hạ viện bị giải tán vào tháng 11/2014 nhưng Tokyo dự kiến sẽ soạn thảo một dự luật mới.
Trường học online của anh Lật Hồng Cường có tên gọi là Skypechina. Anh cho biết nếu Nhật Bản có thể nới lỏng một số điều kiện về thị thực, nó sẽ có ích rất nhiều cho chúng tôi vì các doanh nhân trẻ là sinh viên nước ngoài thực sự rất nghiêm túc trong kinh doanh. Anh cũng rất ấn tượng trước “tinh thần hiếu khách” mà anh đã tìm thấy trong ngành dịch vụ của Nhật Bản.
Tư vấn viên Miyagawa cho rằng các doanh nghiệp của sinh viên nước ngoài sẽ giúp Nhật Bản thu hút thêm nhiều khách nước ngoài. Anh cũng cho biết thêm rằng các sinh viên nước ngoài thỉnh thoảng cũng nhận thấy một số thứ hấp dẫn trong văn hoá Nhật Bản mà người Nhật không nhận ra và đại loại là chúng có thể được sử dụng cho mục đích kinh doanh.
Giáo sư Hasegawa cho biết các doanh nhân xuất thân là những sinh viên nước ngoài có nhiều khả năng khởi nghiệp vì họ biết cả Nhật Bản và đất nước của họ. Ông khẳng định: “Tôi nghĩ số lượng các doanh nhân như vậy sẽ vẫn còn tăng trong tương lai không xa".

66% doanh nghiệp Nhật Bản muốn mở rộng hoạt động tại Việt Nam

Ngày 12-2, tại Hà Nội, Tổ chức xúc tiến Thương mại Nhật Bản (Jetro) đã công bố khảo sát thực trạng hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp (DN) Nhật Bản tại Việt Nam. Đây là những đánh giá, cảm nhận cụ thể của DN Nhật Bản thông qua khảo sát và phân tích của tổ chức này năm 2014.
Theo đó, tính chung có hơn 62% số DN xác nhận làm ăn có lãi và 66% DN có ý định mở rộng quy mô kinh doanh trong thời gian tới cũng như tiếp tục coi Việt Nam là địa bàn đầu tư quan trọng. Nguyên nhân chủ yếu là họ có niềm tin môi trường kinh doanh được cải thiện và thị trường giầu tiềm năng. Các nhà đầu tư Nhật Bản cũng đánh giá khá cao về nguồn lao động giá rẻ bên cạnh điều kiện thuận lợi là “tình hình chính trị, xã hội ổn định”.

Thực tế cũng cho thấy, DN Nhật Bản cũng xác nhận về sự cải thiện theo hướng tích cực về thủ tục cũng như các vấn đề liên quan đến thuế, hải quan… Bên cạnh đó, các DN bạn cũng mong muốn tận dụng những lợi thế khi Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do, nhất là gia nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN ngay trong năm 2015 để đón  cơ hội, tăng cường xuất khẩu.
Tuy nhiên, DN Nhật Bản cũng lo ngại về một số rủi ro, trong đó 60% đơn vị trả lời là hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, vận hành thiếu minh bạch bên cạnh một số thủ tục hành chính kể cả về thuế cần tiếp tục được cải thiện mạnh mẽ hơn trong thời gian tới. Ngoài ra, DN Nhật Bản cũng cho rằng chi phí nhân công có xu hướng tăng và gặp khó khăn trong việc tìm kiếm, mua nguyên liệu, linh kiện từ các DN trong nước do ngành công nghiệp hỗi trợ của Việt Nam chậm phát triển so với nhiều nước khác. Những thực tế này gây ảnh hưởng và làm tăng chi phí sản uất đối với các DN Nhật Bản.
 Đại diện Jetro cho biết, cộng đồng DN Nhật Bản rất mong Chính phủ Việt Nam tiếp tục quan tâm, hoàn thiện hệ thống pháp luật và cải thiện chất lượng môi trường đầu tư-kinh doanh, tập trung cải cách thủ tục và đơn giản hóa thủ tục thông quan, nâng cấp hệ thống hạ tầng để hỗ trợ DN hoạt động hiệu quả hơn.

Nhiều cơ hội tăng trưởng xuất khẩu lao động nước ngoài 2015

Tổng số lao động đi làm việc ở nước ngoài trong tháng 1.2015 là 8.669 người. Như vậy, số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài của tháng đầu năm đạt 9,13% kế hoạch năm 2015 và bằng 139,42% so với cùng kỳ năm ngoái. Năm nay, VN đặt mục tiêu đưa được 100.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài bằng cách tăng số lượng ở các thị trường truyền thống, đưa lao động có trình độ, kỹ thuật tới các thị trường thu nhập cao.
Đài Loan tiếp tục là thị trường trọng điểm
Năm 2014, lần đầu tiên VN đưa được hơn 100.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài, đây là triển vọng được dự báo sẽ duy trì trong năm 2015. Đài Loan vẫn được xem là thị trường trọng điểm với tổng số lao động năm 2014 là 62.000 người – cao nhất so với các thị trường khác. Lý giải nguyên nhân có sự gia tăng mạnh mẽ số lượng lao động của ta sang Đài Loan, ông Tống Hải Nam, Phó Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ LĐ,TB&XH) cho rằng, do những chính sách phát triển kinh tế và thúc đẩy việc làm của Đài Loan kể từ cuối năm 2011 đến nay góp phần gia tăng tổng lượng tiếp nhận lao động nước ngoài hằng năm. Bên cạnh đó, các nước khác như Thái Lan, Indonesia, Philippines… có xu hướng giảm dần việc đưa lao động sang làm việc tại Đài Loan cũng là một cơ hội cho lao động VN. Đồng thời, các doanh nghiệp VN cũng hết sức nỗ lực trong việc tuyển chọn, đào tạo và đáp ứng nguồn cung cho thị trường lao động Đài Loan.
Không chỉgần gũi, thân thiện với người VN mà Đài Loan còn là thị trường khá dễ tính, tiếp nhận nhiều lao động phổ thông, có mức lương cơ bản thuộc hàng khá trong các thị trường hiện có (xấp xỉ630 USD). Đây cũng là thị trường có hành lang pháp lý bảo vệ người lao động tương đối đầy đủ ở cả hai phía… Ông Nguyễn Ngọc Quỳnh, Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước cho biết: “VN đang đàm phán với phía Đài Loan để tháo gỡ một số vướng mắc nhằm đưa lao động ở một số ngành nghề sang thị trường này mà đang bị hạn chế như giúp việc gia đình, lao động thuyền viên. Nếu được tháo gỡ thì số lao động VN sang thị trường này sẽ tăng lên”.
Mở ra nhiều cơ hội thu nhập cao tại Nhật Bản và một số thị trường mới
Trong giai đoạn từ 2010 đến 2014 VN đã đưa sang Nhật Bản được gần 42.000 thực tập sinh (vừa học vừa làm trong thời gian tối đa ba năm), riêng năm 2013 đạt mức trên 10.000 người và năm 2014 đạt gần 20.000 người. Hiện nay, Nhật Bản tiếp nhận hầu hết các ngành nghề như xây dựng, cơ khí, nông nghiệp, chế biến thực phẩm, dệt may; trong đó, nhu cầu với các ngành xây dựng, nông nghiệp, chế biến thực phẩm tăng mạnh. Ngoài ra, để chuẩn bị cho Thế vận hội Tokyo được tổ chức vào năm 2020, từ 2015 đến 2020 Nhật Bản dự kiến tiếp nhận số lượng lớn thực tập sinh xây dựng và xem xét việc tiếp nhận lại các thực tập sinh xây dựng đã hoàn thành hợp đồng về nước trước đây.
Thu nhập cao tại thị trường Nhật Bản
Thời gian tới, các ngành nghề có nhu cầu tuyển dụng cao của thị trường Nhật Bản là xây dựng, cơ khí chế tạo, nông nghiệp, chế biến thực phẩm. Ngoài thực tập sinh, Nhật Bản còn có nhu cầu tiếp nhận lao động có trình độ cao như kỹ sư thiết kế, kỹ sư cơ khí, điều dưỡng, hộ lý. Đây cũng là những cơ hội để lao động VN có thể sang làm việc và học tập tại Nhật Bản.

Với một số thị trường thu nhập cao, ông Nguyễn Ngọc Quỳnh cho biết: “Với thị trường Trung Đông thì ta tiếp tục đẩy mạnh khai thác, đặc biệt tiếp tục chương trình đưa lao động có kỹ thuật cao sang nước ngoài. Với thị trường châu Âu, chúng ta đã đưa lao động điều dưỡng viên sang Đức và sang năm tới có thể Bộ LĐ,TB&XH sẽ ký với Bộ Kinh tế và Năng lượng của Đức để tiếp tục chương trình này và mở rộng hơn với các ngành nghề trong lĩnh vực y tế. Nét mới trong công tác đưa lao động VN sang làm việc tại nước ngoài năm 2015 là mở ra các ngành nghề mới, chú trọng các thị trường để đưa lao động tay nghề, kỹ thuật cao đi làm việc tại nước ngoài”.
Năm 2015 cũng là năm Cộng đồng kinh tế ASEAN được hình thành, cùng với đó, các nước trong khối ASEAN thỏa thuận công nhận tay nghề tương đương tám ngành nghề (kế toán, kiến trúc sư, nha sĩ, bác sĩ, kỹ sư, y tá, vận chuyển, nhân viên ngành du lịch) và lao động thuộc tám ngành nghề này được di chuyển tự do giữa các nước trong khu vực. “Như vậy, người lao động VN trong tám ngành nghề nói trên hoặc có trình độ, bằng cấp đạt tiêu chuẩn sẽ có nhiều cơ hội việc làm tại các nước trong khối, số lượng lao động đi làm việc ở nước ngoài thuộc đối tượng này dự báo sẽ có sự gia tăng trong năm 2015”, ông Nam nhận định.