Thứ Hai, 11 tháng 4, 2016

Lao động Việt có thể xin visa đi Nhật tăng thêm 10 năm thay vì 5 năm như trước

Không chỉ là một nước đáng để đi du học hay đi xuất khẩu lao động, Nhật Bản còn là một đất nước có một nền du lịch rực rỡ với nhiều cảnh đẹp tuyệt mỹ. Để thu hút khách quốc tế đến với đất nước mình, Nhật Bản quyết định sẽ lới lỏng  thị thực cho công dân các quốc gia Ấn Độ, Nga, Trung Quốc, Philippine, Việt Nam. Mục tiêu khi Nhật đề ra quy định này là nhằm thúc đẩy ngành du lịch của Nhật Bản, góp phần phát triển kinh tế cho đất nước.



Dễ dàng đi du lịch Nhật

Với sự ưu tiên như thế, Nhật Bản đã mở rộng cánh cửa cho du khách năm quốc gia trên đến tham quan, khám phá đất nước xứ sở Hoa Anh Đào. Đường đến với đất nước Phù Tang không còn quá khó khăn, việc xin visa sẽ dễ dàng hơn, sẽ thu hút được lượng khách quốc tế đến với Nhật Bản ngày càng gia tăng.

Khám phá đất nước Nhật Bản xinh đẹp
Các du khách Việt khi đặt chân đến đất nước này cũng vậy, việc xin visa dễ dàng sẽ giúp các du khách đến xứ sở Hoa Anh Đào nhanh chóng nhất. Bên cạnh việc khám phá những vùng đất xinh đẹp, du khách có thể thưởng thức những món ăn ngon, nổi tiếng của ẩm thực Nhật Bản, các khu trung tâm thương mại, những khu chợ sale nổi tiếng.

Dịch vụ tốt

Nhằm tăng lượng du khách đến du lịch tại Nhật Bản, bên cạnh việc nới lỏng việc xin visa cho năm quốc gia trên vì đây là những nước mang đến lượng du khách tiềm năng cho việc phát triển du lịch Nhật Bản. Chính phủ khuyến khích các doanh nghiệp, công ty du lịch, những địa điểm du lịch cung cấp wifi miễn phí cho du khách, cho phép du khách quốc tế có thể đặt chỗ các phương tiện công cộng qua mạng Internet.

Không những thế, đến năm 2017, Chính Phủ Nhật cũng sẽ tiến hành những cải cách về quy định du lịch. Sẽ xử lý nghiêm ngặt những văn phòng du lịch không đạt chuẩn, những công ty môi giới du lịch làm việc không tốt gây ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch ở Nhật Bản.

Bên cạnh việc nới lỏng visa cho du khách Việt, chính phủ Nhật Bản cũng sẽ áp dụng chính sách này cho công dân Việt Nam, những người đang sinh sống, học tập, đi xuất khẩu lao động ở Nhật Bản. Thời hạn lưu trú tối đa sẽ là 10 năm thì vì 5 năm như trước đây.

Đây quả như một cơ hội cho du khách Việt, cũng như công dân Việt, những người xuất khẩu lao động để làm việc, sinh sống, các du học sinh được ở Nhật lâu hơn, rèn luyện, phát triển bản thân hơn nữa. Việc này còn với mục đích thu hút lượng du khách tiềm năng đến từ các quốc gia có người dân du lịch Nhật Bản nhiều nhất.

(Nguồn: Sưu tầm)

Thứ Sáu, 8 tháng 4, 2016

Chim hạc trong văn hóa Nhật Bản

Tọa lạc tại tỉnh Hokkaido, miền Bắc Nhật Bản, Kushiro – vùng đầm lầy rộng lớn với tổng diện tích 183 km2 – là môi trường sinh sống của khoảng 2.000 loài động thực vật và chim nước.

Vào các mùa trong năm, đầm lầy là nơi cung cấp nguồn thức ăn dồi dào, nhưng đến mùa đông, toàn bộ khu vực chìm trong tuyết trắng. Sự bất lợi này vẫn không thể cản trở Kushiro trở thành thiên đường kết đôi và sinh sản của sếu đầu đỏ – loài chim quý hiếm trên thế giới mà người Nhật gọi là hạc Tancho. Hiện nay, có trên 1.000 con hạc Tancho đang cư trú tại khu đầm lầy này.




Với chiều dài sải cánh lên đến 1,4m, chim hạc là loài chim lớn nhất Nhật Bản và được người dân xứ sở này xem như biểu tượng đặc biệt của tự nhiên. Chữ “tan” trong từ tancho có nghĩa là màu đỏ và chữ “cho” dùng để chỉ chỏm lông trên đầu. Nguồn gốc của từ tancho xuất phát từ đặc điểm của loài hạc là chỏm lông màu đỏ giống như chiếc mũ ngay đỉnh đầu.


Hạc Tancho là tên gọi mang tính trang trọng. Thông thường, người Nhật dùng từ “tsuru” để gọi loài chim cao quý này.



Chim hạc là loài vật chung thủy, khi con trống và con mái kết đôi, chúng sống bên nhau suốt đời không thay đổi. Chính vì vậy, người Nhật xem chim hạc là biểu tượng của sự hòa hợp trong cuộc sống vợ chồng. Họa tiết hình chim hạc là hoa văn phổ biến và được ưa chuộng trên trang phục cưới kimono và nhiều đồ vật khác.


Vòng đời của chim hạc từ 30 – 60 năm. Chúng là loài lông vũ có tuổi thọ cao nhất trong họ nhà chim. Vì thế, từ xa xưa, người Nhật và dân các nước phương Đông đã quan niệm, chim hạc và rùa là hai linh vật tượng trưng cho sự trường thọ. Rùa và chim hạc là đề tài chủ đạo trên các bức tranh giấy cuộn dùng để trang trí trong nhà người Nhật.

Hạc giấy là hình ảnh rất quen thuộc trong bộ môn nghệ thuật xếp hình ori-gami. Tại Nhật Bản, người ta tin rằng, nếu ai đó xếp đủ 1.000 con hạc giấy thì họ sẽ có một điều ước cho sự an lành, hạnh phúc và thuận lợi. Niềm tin này đã phần nào cổ vũ tinh thần, giúp nhiều người vượt qua khó khăn.


Hạc giấy còn là biểu tượng của hòa bình. Ngoài ra, người Nhật cũng cho rằng, chim hạc mang lại sự may mắn. Suy nghĩ đó có liên quan đến chỏm lông màu đỏ trên đỉnh đầu của chúng. Trong dân gian tồn tại nhiều câu chuyện cổ tích về vận may mà loài chim này mang đến cho con người. Nổi tiếng nhất là câu chuyện “Tsuru no On-gaeshi”, tạm dịch “Chim hạc đền ơn”.

Ngày xưa, có một lão nông nhân hậu tình cờ bắt gặp con chim hạc đang mắc bẫy, ông đã giải thoát cho con vật đáng thương ấy. Vào một đêm mùa đông tuyết rơi nặng hạt, một cô gái xinh đẹp đến gõ cửa nhà vợ chồng ông lão. Cô gái cho biết, mình bị lạc đường và xin ông bà lão cho tá túc. Vợ chồng bác nông dân tốt bụng vui lòng nhận lời.

Cô gái lưu lại nhà của họ trong một thời gian. Hàng ngày, cô giam mình trong phòng để dệt vải. Ít lâu sau, cô dệt xong một tấm vải tuyệt đẹp và mang nó tặng cho vợ chồng ông lão.

Một ngày nọ, vợ chồng bác nông dân lén vào phòng của cô gái để tìm hiểu sự việc. Họ không tin vào mắt mình khi thấy một con chim hạc đang dệt vải bên khung cửi. Chim hạc tự bứt những chiếc lông trắng tinh trên cơ thể để làm nguyên liệu dệt. Cô gái xinh đẹp chính là chim hạc hóa thân, khi bị nhìn thấy hình dáng thật, chim hạc không thể trở lại hình người. Nó từ biệt ông bà lão để quay về trời xanh sau khi gửi lại cho họ những tấm vải quý dệt từ những chiếc lông mịn màng của nó như một sự đền ơn.

Vẻ đẹp thanh mảnh của hình thể cùng những quan niệm tốt lành về chim hạc không chỉ xuất hiện trong hội họa, thi ca mà còn được dùng làm biểu tượng cho hãng hàng không quốc gia Nhật Bản – JAL.Tháng 1/2011, ban giám đốc của JAL đã quyết định lấy lại hình ảnh chim hạc làm logo trên phần đuôi của máy bay sau 9 năm từ bỏ nó.



Năm 1959, logo này lần đầu tiên được hãng hàng không quốc gia Nhật Bản sử dụng. Logo của JAL được thiết kế cách điệu với hình chim hạc đỏ đang vươn đôi cánh tạo thành vòng tròn tượng trưng cho Mặt trời – biểu tượng của nước Nhật. Trên nền đỏ của mình hạc là chữ JAL màu trắng.

Theo ban giám đốc của JAL, chim hạc tượng trưng cho tinh thần quật cường và sự vĩnh cửu của hãng. Họ hy vọng rằng, sự sống lại của logo hình chim hạc sẽ giúp JAL vượt qua giai đoạn khó khăn do suy thoái kinh tế để hồi phục và phát triển mạnh mẽ.

Đến Nhật Bản, bạn sẽ bắt gặp hình chim hạc trang trí ở khắp mọi nơi. Trên tờ 1.000 Yên Nhật, ở hai bên của vòng tròn in hình ảnh mờ chân dung nhà vi trùng học Noguchi Hideyo là hai con chim hạc đang vươn cổ lên trời cao.

Trên lá bài Hana-fuda – loại bài lá trong trò chơi bài truyền thống Karuta của người Nhật – có in hình chim hạc, lá thông và mặt trời – những biểu tượng đặc trưng của Nhật Bản.

Bên ngoài tấm thiệp Shugi bukuro dùng để đựng tiền mừng cưới có hình chim hạc trắng được thắt một cách khéo léo. Nguyên liệu dùng làm hình trang trí này là giấy washi. Thiệp mừng cưới hình chim hạc rất phổ biến tại Nhật, chứa đựng hàm ý cầu chúc đôi lứa sống hạnh phúc, bền lâu.


Từ xưa, người Nhật đã xem chim hạc là linh điểu, là biểu tượng của sự linh thiêng cao quý. Quan niệm này bắt nguồn từ truyền thuyết của người Trung Quốc xem chim hạc là phương tiện đi lại của thần tiên.

Tại Nhật Bản, chim hạc bắt đầu xuất hiện trên tranh vẽ vào thời Edo, nhưng lịch sử phát triển của loài chim này trên đất Nhật cũng lắm thăng trầm. Lúc bấy giờ, các vùng ven của kinh thành Edo có rất nhiều cánh đồng hoang sơ và đầm lầy thích hợp cho chim hạc sinh sống. Hàng năm, vào mùa đông, môi trường cư trú chủ yếu của chim hạc ở Hokkaido chìm trong tuyết trắng nên chúng di cư xuống miền Nam nước Nhật – nơi khí hậu ấm áp hơn. Đến mùa xuân, chúng lại quay trở về Hokkaido.



Trong quá trình di cư đó, một số con hạc bị săn bắn và trở thành nguồn thực phẩm cao cấp. Chim hạc là món ăn có mặt trong thực đơn của lãnh chúa Date Masa-mune. Thịt chim hạc chủ yếu được sử dụng làm món súp. Đây được xem là món “cao lương mỹ vị” với niềm tin rằng, ăn thịt chim hạc mang lại sự trường thọ.

Để cung cấp nguồn thực phẩm quý này, người dân áp dụng nhiều cách để săn bắt chim hạc. Một trong những cách săn chim hạc hiệu quả nhất là dùng chim ưng săn mồi. Chim hạc không chỉ là món ăn cao cấp của tướng quân và giai cấp cầm quyền ở kinh thành mà nó còn xuất hiện trên bàn ăn của các lãnh chúa địa phương.

Đến thời Mạc phủ, việc săn bắt chim hạc trong dân chúng bị cấm hoàn toàn. Kể từ đó, chim hạc được an toàn trong những chuyến di cư tránh đông.

Vào thời Minh Trị duy tân, chính quyền đẩy mạnh khai khẩn đất hoang tại khu vực Hokkaido. Việc này khiến môi trường sinh sống của chim hạc thay đổi nghiêm trọng. Thêm vào đó, lệnh cấm săn bắt chim hạc được dỡ bỏ, người dân bắt đầu đổ xô săn lùng loài chim quý này. Hậu quả là vào thế kỉ XIX, hình bóng của chim hạc hoàn toàn biến mất khỏi những vùng cư trú thân thuộc trên lãnh thổ Nhật Bản. Điều đó khiến người ta nghĩ rằng, chim hạc Nhật Bản đã tiệt chủng.

Thế nhưng, vào năm 1924, chim hạc xuất hiện trở lại ở khu vực Hokkaido. Thông tin chim hạc trở về nhanh chóng lan rộng khắp cả nước. Nó là minh chứng cho thấy, môi trường sống tự nhiên của loài chim quý hiếm này đã được cải thiện.



Ngay lập tức, cư dân địa phương tìm cách giữ chân chim hạc ở lại lâu dài. Mùa đông, chim hạc rất khó tìm thức ăn nên mọi người cung cấp thức ăn cho chúng và dựng lên những nơi trú đông tạm thời cho chim hạc. Dưới sự trợ giúp và bảo vệ của người dân địa phương, chim hạc bắt đầu định cư lâu dài tại Hokkaido. Không giống sếu đầu đỏ ở các nơi khác di cư theo mùa, chim hạc sống cố định tại đầm lầy Kushiro.

(Nguồn: Sưu tầm)

Thứ Năm, 7 tháng 4, 2016

Học tập bí quyết thành công của người Nhật

Là một nước rất nghèo về tài nguyên, động đất nhiều nhất thế giới, kinh tế bị tàn phá kiệt quệ sau Chiến tranh thế giới thứ II. Bằng cách nào mà Nhật Bản nhanh chóng phục hồi và tăng trưởng thần kỳ, trở thành nước có tiềm năng lớn thứ hai trên thế giới về kinh tế, khoa học kĩ thuật và tài chính? Bí quyết thành công của họ là gì? Trong bài viết này, chúng ta hãy cùng nhau đi tìm hiểu về những bí quyết dẫn đến thành công của nước Nhật như ngày hôm nay nhé!

Thực ra bí quyết của họ lại vô cùng đơn giản:



Đúng giờ

Người Nhật rất đúng giờ. Họ luôn đến trước hẹn tối thiểu 5 phút. Các cuộc họp chỉ bắt đầu khi tất cả các thành phần đã có mặt. Vì vậy, đúng giờ là cực kỳ quan trọng. Ở ta đi làm muộn dường như trở thành một thói quen.

Đúng hạn

Hạn đã định là không thay đổi bởi bất cứ lý do gì. Sở dĩ thời hạn không thể thay đổi là vì người Nhật đã lập kế hoạch và chuẩn bị mọi việc để thực hiện sau mốc thời hạn đó rồi. Ví dụ thời hạn ra mắt sản phẩm là 21/12/2009 thì địa điểm ra mắt đã được thuê, khách đã được mời, hợp đồng bán sản phẩm đã ký kết, … Do vậy công tác lập kế hoạch và ước lượng thời gian, nhân lực là quan trọng nhất. Với người Nhật, không có khái niệm trễ hạn, vì hạn đã định, phải bằng mọi giá hoàn thành công việc đúng tiến độ. Trễ hạn đồng nghĩa với việc không thể hợp tác với nhau được nữa.

Nghiêm túc, cẩn thận

Nghiêm túc và cẩn thận trong từng việc nhỏ nhất. Người Nhật cực kỳ cẩn thận. Làm một việc thì bao giờ cũng kiểm tra trước khi đi làm, kiểm tra trong khi làm và kiểm tra sau khi làm xong. Trước khi mang đồ đi giặt, họ kiểm tra túi quần áo có quên gì không. Khi đổ quần áo vào máy giặt học kiểm tra lại một lần nữa. Và cuối cùng, sau khi giặt xong, họ lại lục lại quần áo để kiểm tra. Chính vì cẩn thận một cách cực đoan như vậy mà chất lượng hàng hóa của Nhật luôn đứng đầu thế giới.

Chuẩn bị kỹ lưỡng, chu đáo

Công tác chuẩn bị được thực hiện sớm và kỹ lưỡng, chu đáo đến mức đáng kinh ngạc. Chúng tôi đến thăm Công ty phần mềm tên là OMRON Software. Có tất cả 10 người tiếp đón và làm việc với chúng tôi. Vì chúng tôi đi khá xa (1 tiếng rưỡi), nên việc đầu tiên là họ mời chúng tôi vào rest room. Khi tới phòng họp, họ bố trí đúng 22 chỗ ngồi cho khách, không thừa, không thiếu. Đồng thời trên bàn đã đặt sẵn 22 món quà kỉ niệm. Họ chuẩn bị trình chiếu rất cẩn thận, không có chuyện lỗi phông chữ hay trục trặc máy chiếu như ở nhà ta. Lúc ra về, họ mời đi rest room một lần nữa. Xe đi một đoạn xa, tôi ngoái nhìn vẫn thấy họ đứng dàn hàng vẫy chào tạm biệt.

HoRenSo: Chủ động trong công việc

Đây là một trong những khẩu quyết mà người Nhật luôn ghi nhớ. HoRenSo viết tắt của ba chữ: Hokoku, nghĩa là báo cáo, Renraku: trao đổi, Sodan: hỏi ý kiến. Trong công việc, phải báo cáo định kỳ cho cấp trên. Thường xuyên trao đổi, bàn bạc với đồng nhiệp và cấp dưới. Cuối cùng là phải hỏi ý kiến cấp trên trước khi quyết định làm gì đó. HoRenSo nghĩa là chủ động trong công việc. Hiện nay, ở Trung tâm Phát triển phần mềm, nhân viên thử việc được đào tạo về “4 ngay”: chưa được giao việc hỏi ngay; nhận việc mà không hiểu hỏi ngay; trong lúc làm gặp vướng mắc nhờ giúp đỡ ngay; cuối cùng là xong việc báo cáo ngay. Đây chính là tinh thần HoRenSo. Có điều “4 ngay” tại Trung tâm chưa phát huy mạnh mẽ lắm.

5S: Ngăn nắp, khoa học

Một khẩu quyết nữa mà người Nhật áp dụng rất thành công là 5S. Để có môi trường làm việc ngăn nắp, khoa học và chuyên nghiệp, người Nhật làm 3 việc đơn giản sau:

Seiri: Sàng lọc. Chỉ giữ thứ mình cần. Vứt bỏ vật dụng dư thừa, không cần thiết đi.

Seiton: Sắp xếp. Sắp xếp mọi thứ sao cho khi cần là có ngay để dùng, không mất thời gian tìm kiếm.

Seiso: lau chùi, dọn dẹp, kiểm tra hỏng hóc thường xuyên.Bàn ghế, máy móc, vật dụng gọn gàng, sạch sẽ, ngăn nắp làm tăng hiệu suất làm việc.

Seiketsu : Săn sóc. Duy trì tiêu chuẩn về sự sạch sẽ, ngăn nắp

Shitsuke: Sẵn sàng. Hình thành thói quen và thực hành

Ngoài ra, tổ chức cần đảm bảo các thực hành đúng được đào tạo và trình diễn, trong khi các thực hành không đúng phải được nhận biết và xử lý. Hãy đảm bảo mọi người đều hiểu và thống nhất thực hiện bởi nếu không có đào tạo và kỷ luật, các bước khác của 5S sẽ không thể thành công.

Ở ta chuyện tìm cái điều khiển máy điều hòa hay cái dập ghim mất 5, 10 phút hoặc không thể tìm thấy là chuyện bình thường, chẳng ai ngạc nhiên. Hay như việc tìm tài liệu trên máy tính của chính mình, toát mồ hôi không biết đã cất vào đâu, vẫn xảy ra thường xuyên.

Kaizen – Liên tục cải tiến

Đây là khẩu quyết quan trọng nhất, là chìa khóa đem lại thành công cho nền kinh tế Nhật Bản. Liên tục cải tiến, liên tục sáng tạo để nâng cao năng suất, chất lượng và giảm thiểu chi phí. Cải tiến có thể là rất nhỏ. Nhiều cải tiến nhỏ góp lại sẽ làm nên điều kỳ diệu. Kaizen chống lại cách nghĩ và cách làm theo lối mòn, trì trệ, kìm hãm phát triển.

Các Công ty ở Nhật làm Kaizen như sau:

Phổ biến ích lợi của Kaizen cho nhân viên mới.

Phát động phong trào cải tiến, sáng tạo trong công việc. Đặt mục tiêu cho từng phòng ban, tổ nhóm phải có một số lượng sáng kiến nhất định trong kỳ thì mới được đánh giá cao.

Khuyến khích Kaizen bằng thưởng lớn cho sáng kiến.

Định kỳ tổ chức ngày hội cải tiến toàn công ty. Trong ngày hội này, các cải tiến đã áp dụng hiệu quả trong kỳ được xét trao giải, được tôn vinh.

Các bí quyết trên rất đơn giản nhưng có dễ thực hiện hay không lại hơi khó trả lời. Chúng ta đều thấy để thực hiện phải thay đổi nhận thức của chính mình, phải nghĩ khác và làm khác. Muốn vậy, lãnh đạo phải có kế hoạch hành động cụ thể, phải tiên phong thực hiện và truyền lửa cho cấp dưới.

(Sưu tầm)

Thứ Ba, 5 tháng 4, 2016

Đặt mục tiêu đưa 100.000 lao động ra nước ngoài trong năm 2016

Năm 2016, Việt Nam đặt mục tiêu đưa 100.000 người đi xuất khẩu lao động, chủ yếu ở Đài Loan (Trung Quốc), Nhật Bản, Malaysia, một số nước ở Trung Đông.

Năm 2015, ước tính cả nước đưa được 115.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài, đạt 127,8% kế hoạch năm và tăng 8,5% so với năm 2014.

Một số thị trường trọng điểm, tiếp nhận nhiều lao động Việt Nam là Đài Loan (Trung Quốc) và Nhật Bản (chiếm trên 80% tổng số lao động được đưa đi). Cùng với việc tiếp tục mở rộng thị trường, năm 2015 chất lượng lao động đi làm việc ở nước ngoài từng bước được nâng lên.

Lao động Việt Nam tiếp tục được đưa đi làm việc ở những lĩnh vực, nghề mới có yêu cầu chất lượng cao như y tá, điều dưỡng tại Nhật Bản và Cộng hòa liên bang Đức...

Với trên 500.000 lao động đang làm việc tại hơn 40 quốc gia, vùng lãnh thổ, ở hơn 30 nhóm ngành nghề, trung bình mỗi năm người lao động gửi về nước từ 1,6 đến 2 tỷ USD. Năm 2016, Việt Nam đặt mục tiêu đưa 100.000 người đi xuất khẩu lao động.

Ông Tống Hải Nam, Phó cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho biết: "Bên cạnh mở rộng các thị trường tiếp nhận lao động, chúng tôi cũng trao đổi với các nước để mở rộng cả ngành nghề và lĩnh vực tiếp nhận.

Hiện nay, chúng ta có một số thị trường truyền thống tiếp nhận lao động Việt Nam thì chắc chắn trong thời gian tới sẽ duy trì ổn định và mong rằng sẽ mở rộng được thị phần ở những thị trường này. Đó là thị trường Đài Loan, Nhật Bản, Malaysia và một số nước Trung Đông. Hy vọng với những giải pháp đáng kể, thì thị trường Hàn Quốc cũng sẽ có những dấu hiệu tích cực trong những năm tới.

Nguồn: VOV


Những điểm thú vị của đất nước Nhật Bản xinh đẹp

Nhật Bản là một quốc gia hải đảo hình vòng cung. Đây là nước có dân số lớn thứ 10 thế giới với ước tính 128 triệu người. Dù dẫn đầu thế giới về khoa học, công nghệ và là nền kinh tế lớn thứ ba toàn cầu, nhưng văn hoá truyền thống của người Nhật chẳng hề phai mờ mà còn vô cùng hấp dẫn đối với thế giới.


1. Núi Phú Sĩ

Ngọn núi có đỉnh được phủ tuyết trắng này là một điểm sáng trên hồ Yamanaka. Chắc chắn là bạn sẽ thấy quen bởi núi Phú Sĩ được chọn là biểu tượng của Nhật Bản.

Đây là ngọn núi lửa cao 3.776 m và lần phun trào gần đây nhất xảy ra từ 300 năm trước. Từ lâu, núi Phú Sĩ là biểu tượng cho sự thanh bình và sức mạnh của quốc gia Nhật Bản. Nếu trời không có mây, người ta có thể nhìn thấy đỉnh núi từ thủ đô Tokyo, cách đó những 112 km.


2. Cổng Torii

Mặt trời đang khuất sau ngọn núi và cổng Torii tại Miyajima rọi bóng xuống mặt nước. Đây là chiếc cổng Torii nổi tiếng được xây dựng vào năm 1875 và là cổng lớn nhất Nhật Bản (cao 16 m).

Theo truyền thống, Torii được xây dựng ở lối vào các đền thờ Shinto hay đền thờ Thần Đạo. Tuy nhiên ở các đền thờ Phật Giáo cũng có. Ở Nhật Bản, những người làm ăn thành công thường quyên tặng xây dựng Torii nhằm thể hiện lòng biết ơn. Chính vì vậy ở Nhật có rất nhiều Torii. Ví dụ đền thờ Fushimi Inari ở Kyoto có hàng ngàn Torii như thế.



3. Ruộng lúa

Ruộng bậc thang (giống như ở Việt Nam) ngập nước lấp lánh với những đốm lửa người dân tạo ra.

Lúa đã được trồng ở Nhật ít nhất là 2.000 năm và là thành phần quan trọng trong chế độ ăn uống của người Nhật. Địa hình đồi núi của quốc gia này đặc biệt thích hợp cho việc trồng trọt các loại cây cho hạt.


4. Hạc Nhật Bản

Đây là loài sếu lớn nhất và hiếm thứ 2 trên thế giới. Tại Nhật Bản, sếu được coi là biểu tượng của sự may mắn, trường thọ và tính trung thực. Loài sếu tuyệt đẹp này có một vệt dài màu đỏ trên đỉnh đầu. Số lượng hiện giờ của chúng là khoảng 1.500 con.Tất cả Hạc Nhật Bản đều di cư, chỉ trừ một số ít tại Hokkaido.


5. Chợ cá

Nơi đây bày bán tất cả các loại hải sản, từ lươn biển cho đến bạch tuộc – phản ánh nhu cầu đa dạng của người dân Nhật Bản. Cá từ lâu đã là nguồn cung cấp protein quan trọng trong bữa ăn của người dân đất nước mặt trời mọc.


6. Ẩm thực

Ẩm thực Nhật Bản rất phong phú và độc đáo, bao gồm sushi, trà đạo và các món khác như bánh làm từ bột gạo.

Sushi là món ăn truyền thống làm từ cơm kết hợp với hải sản tươi sống hoặc chín, ăn cùng rau và gia vị (như wasabi nếu là sushi hải sản).
Trong khi đó, Sashimi có thành phần chính là hải sản tươi sống. Sashimi được cắt thành từng lát mỏng, ăn cùng nước chấm như xì dầu, tương, các gia vị như wasabi, gừng và tía tô, bạc hà, củ cải trắng hoặc một số loại tảo biển. Khi đến nhà hàng Sushi Daiwa trong chợ cá Tsukiji, Tokyo, nhiếp ảnh gia Justin Guariglia bất ngờ: “Tất cả mọi thứ đều rất tươi ngon … nhưng cũng rất tốn kém”!


7. Rừng trúc

Hãy đến thăm công viên Arashiyama ở phía tây Kyoto, bạn sẽ có cảm tưởng mình đang tham gia bộ phim “Thập diện mai phục”!

Được biết đến với khả năng “lớn nhanh như thổi” , trúc được sử dụng rất nhiều ở Nhật Bản, đặc biệt là ở Kyoto – nơi mà trúc được dùng làm rổ, sáo, ống dẫn, ghế, hàng rào … Thậm chí trúc còn dùng để làm búp bê và các đồ dùng cho nghi lễ trà đạo. Trúc đối với người Nhật cũng “đa zi năng” như tre của mình nhỉ? Làm được đủ mọi thứ vật dụng từ cây tre luôn!


8. Đèn lồng cá chép

Chính xác thì đây là cá chép Koi – biểu tượng của sự bản lĩnh, tính kiên định và hoài bão của đàn ông Nhật. Đèn lồng cá chép thường được treo vào ngày lễ Koinobori dành cho các bé trai vào ngày 5 tháng 5 hàng năm


9. Hoa anh đào

Nhật Bản còn được thế giới biết đến với mĩ danh “đất nước hoa anh đào”. Người Nhật thích trồng hoa anh đào trên khắp đất nước. Hoa anh đào tượng trưng cho sắc đẹp, sự mong manh và trong trắng, là loại hoa “thoắt nở thoắt tàn” nên được các Samurai yêu thích. Nó tượng trưng cho “con đường chết” của họ. “Sống và chết như hoa anh đào”.

10. Geisha


Một Geisha với đôi môi ngậm chặt tượng trưng cho sự kính trọng.

Nam giới thuộc tầng lớp thượng lưu tại Nhật Bản giải trí với âm nhạc, múa hát và cả nói chuyện. Một Geisha càng có giá trị khi họ càng xinh đẹp và học được càng nhiều kĩ năng. Các biểu tượng văn hoá nổi tiếng Nhật Bản này đã biểu diễn những kĩ năng nghệ thuật truyền thống của họ trong hơn 250 năm.
Ngày nay, số lượng Geisha tại Nhật đã giảm đi rất nhiều, khoảng dưới 1.000 người. Người ta hiếm khi nhìn thấy một Geisha hay Maiko (Geisha học việc) ở Nhật. Tuy nhiên, khi đến khu Gion ở Kyoto rất dễ nhìn thấy một Maiko đang trên đường đến hoặc về từ một cuộc hẹn.

11. Hoa đỗ quyên


Hoa đỗ quyên nở thành từng cụm, đầy màu sắc trong một khu vườn bên ngoài Tokyo.

Nhật Bản nổi tiếng với nghệ thuật bonsai, đôi khi họ coi đó như một vẻ đẹp tinh thần. Hoạt động tham quan các vườn thực vật là một hoạt động phổ biến.

12. Bánh gạo


Bánh gạo hay còn gọi là Mochi, là món ăn yêu thích tại Nhật Bản đặc biệt trong năm mới.

Loại bánh truyền thống này được làm để biếu người thân, trang trí trong nhà hoặc phục vụ cho hoạt động tại các đền chùa. Bánh gạo được làm từ bột, gạo nếp và nhân thường là đậu ngọt. Trong các siêu thị, bánh được bán rất nhiều và có thể ăn với súp.

(Còn tiếp)

Thứ Hai, 4 tháng 4, 2016

Tổng quan thị trường tiếp nhận lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài năm 2015

Theo thống kê trong năm 2015 có 115.980 lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, tăng 8,55% so với năm 2014 và vượt 28,86% so với kế hoạch năm đặt ra. Riêng trong tháng 12, các doanh nghiệp đã cung ứng được 6.728 lao động, giảm 31,60% so với tháng 11.



Tổng quan thị trường tiếp nhận lao động phân theo khu vực cho thấy:

1. Khu vực Đông Bắc Á

Số lao động đi làm việc tại khu vực Đông Bắc Á là 100.643 người, chiếm tỷ trọng 86,77% tổng số đưa đi, tăng 9,82% số lượng lao động đưa đi so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, số lao động đi làm việc tại Đài Loan là 67.121 người, chiếm 66,70% số lao động đưa đi trong khu vực này và 57,87% so với tổng số lao động đưa đi trong năm 2015. Bình quân thị trường này mỗi tháng tiếp nhận 5.593 người. Riêng tháng 12 Đài Loan tiếp nhận 2716 người giảm 48.83% so với tháng 11.

Lao động đưa đi tại thị trường Nhật Bản: 27.010 người tăng 36,65% so với  số lao động đưa đi năm 2014,  bình quân mỗi tháng đi được 2.250 người. Trong tháng 12 con số này là 2.494người. Đây là con số cung ứng lao động sang thực tập sinh tại Nhật cao nhất so với các năm qua .

Lao động đi làm việc tại Hàn Quốc là 6.019 người, bình quân mỗi tháng Hàn Quốc tiếp nhận 501 người. Quy mô tiếp nhận lao động VN giảm 16,88% so với năm 2014.

Lao động đi làm việc tại MaCao là 493 người, giảm 80,40% so với năm 2014.

2. Thị trường khu vực Đông Nam Á

Có 7.389 lao động Việt Nam đi làm việc tại thị trường này, chiếm 6,37% tống số lao động đưa đi, tăng 34,81% so với  số lao động đưa đi trong năm 2014. Trong đó chỉ có hai thị trường tiếp nhân lao động đó là: Malaysia có quy mô tiếp nhận lớn nhất là 7.354 người, chiếm 99,52% số lao động đưa đi trong khu vực này . Bình quân mỗi tháng thị trường này tiếp nhận 612 lao động. Quy mô tiếp nhận lao động VN tại Malaysia tăng 43,10% so với số lao động đưa đi năm 2014.

Và thị trường Singapore đã tiếp nhận 31 lao động, tiếp tục có xu hướng giảm và giảm 66,30%  so với năm 2014. Đây là thị trường đòi hỏi người lao động không chỉ có tay nghề cao mà cả có trình độ tốt về ngoại ngữ.

3. Thị trường các nước khu vực Trung Đông và Bắc Phi

Thị trường các nước khu vực Trung Đông tiếp nhận 5.124 lao động, chiếm 4,42% tổng số lao động đưa đi, giảm 14,14% so với cùng kỳ năm trước.Trong năm 2014 các doanh nghiệp chỉ cung ứng lao động cho bốn thị trường có số lượng đáng kể, đó là: UAE với 286 người, giảm gần 66% ; Israel: 268 người; Quatar 850 người và Ả Rập Xê-Út: 3.975 người, giảm 5,15% so với năm 2014.

Số lao động đi làm việc tại các nước Bắc Phi là 2.055 người, chiếm 1,77% tổng số lao động đưa đi, tăng 22,03% so với năm 2014.Trong đó, thị trường Algieri: 1.963 người tăng gần 3,6 lần so với năm 2014 và Angola: 92 lao động.

4. Thị trường các khu vực khác

Lao động đi làm việc tại các thị trường khác là 769 người, chiếm 0,67% tổng số lao động đưa đi. Trong đó thị trường Berlarus tiếp nhận 91 người; Liên bang Nga : 81 người. Đáng lưu ý trong năm 2015, một số doanh nghiệp đã  xúc tiến đưa lao động vào thị trường mới  Italia : 137 người ; Thổ nhĩ Kỳ : 305 người và thực hiện chương trình Điều dưỡng viên tại CHLB Đức: 100 người. Hiện số lao động này có việc làm ổn định và thu nhập tốt.

Số liệu thống kê cũng cho biết lao động nữ đưa đi là 38.640 người, chiếm 33,32% tổng số lao động đưa đi.

Nếu trong năm 2015 có 21 thị trường tiếp nhận lao động Việt Nam, thì chỉ có 6 thị trường tiếp nhận với quy mô từ 1.000 lao động trở lên, bao gồm thị trường: Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Ả Rập Xê- Út, và Algeria.

Tóm lại trong năm 2015, các thị trường tiếp nhận lớn lao động Việt Nam vẫn tập trung vào các nước (lãnh thổ) thuộc khu vực Đông Bắc Á và tập trung sự gia tăng lớn hơn cả là hai thị trường Đài Loan và Nhật Bản.

Thị trường khu vực Trung Đông có xu hướng giảm so với năm 2014. Thị trường các nước Đông Nam Á tăng nhẹ so với trước, riêng thị trường Malaysia có sự gia tăng đáng kể.

Đây là một nét khác biệt so với các năm trước đây và có lẽ cũng sẽ là xu hướng vận động của thị trường tiếp nhận lao động  Việt Nam trong năm 2016.

Cùng với sự chỉ đạo quyết liệt của cơ quan Quản lý Nhà nước ngay từ đầu năm 2016 về ổn định và phát triển các thị trường trọng điểm đặc biệt tại hai thị trường Nhật Bản và Đài Loan, cũng như sự tập trung đầu tư bài bản của các doanh nghiệp nhằm cải thiện tốt hơn chất lượng lao động, nâng cao tính tuân thủ nghiêm túc về ý thức chấp hành việc trở về nước khi hết hạn hợp đồng của người lao động. Chắc chắn trong năm 2016, sự nghiệp xuất khẩu lao động sẽ có bước phát triển mới kể cả quy mô và chất lượng.

Nguồn: Vasma

Thứ Sáu, 1 tháng 4, 2016

4 điều luật kì lạ của Nhật Bản bạn nên biết

Vốn có "bề dày" những thói quen, lề lối kì cục, nhưng bạn có biết Nhật Bản cũng có một số điều luật khá lạ lùng khiến cho những người mới đến Nhật cũng phải hoang mang không biết đường nào mà lần. Nhật Bản chưa bao giờ thất bại trong việc làm chúng ta cảm thấy chóng mặt và lạ kỳ. Ở quốc gia này tồn tại một số thói quen khá khó hiểu, giả như không bao giờ người Nhật thèm sờ đến những thứ dính dáng đến số 4 hoặc vừa đi vừa ăn được coi là bất lịch sự, thậm chí nếu mệt mỏi mà "nhỡ" gục đầu vào vai người khá trên tàu điện ngầm cũng là một nguyên nhân khiến cho người Nhật cảm thấy khó chịu. Song song với những thói quen này, xứ sở hoa anh đào cũng có vài luật lệ cũng có khả năng khiến những người đến Nhật lần đầu phải " quay tít thò lò" vì những điều kì quặc.

1. Người nước ngoài buộc phải mang theo hộ chiếu 24/7


Theo Bộ ngoại giao Mỹ, chính phủ Nhật Bản cho phép lực lượng cảnh sát có quyền dừng bất cứ người nước ngoài nào lại để kiểm tra hành chính. Bởi vậy, khi đến Nhật, vật bất li thân của bạn ngoài quần áo, tiền bạc còn có hộ chiếu để chứng minh thân thế của mình. Nếu khi bị kiểm tra đột xuất mà không mang hộ chiếu, rất có thể bạn sẽ được thử cảm giác bị tạm giữ mà chẳng làm điều gì sai ngoại trừ đãng trí.

2. Một số loại thuốc kê đơn hợp pháp trên thế giới lại bị coi là bất hợp pháp tại Nhật

Luật pháp Nhật Bản cho phép bạn mang nhiều thuốc theo người, kể cả số lượng có nhiều đến mức đủ dùng trong tận 2 tháng cũng không sao. Tuy nhiên nước này nghiêm cấm các loại thuốc có thành phần chứa chất kích thích (chất pseudoephedrine), vì vậy các loại thuốc xông xoang, thuốc chống dị ứng và các chất giảm đau sẽ không được phép mang vào Nhật Bản.

Thế nhưng vấn đề là rất khó để biết được loại thuốc nào được mang, loại thuốc nào bị cấm khi phía Nhật Bản vẫn chưa cung cấp rõ ràng bảng phân loại thuốc của họ. Giải pháp cho vấn đề này là, nếu bạn có mang thuốc theo người, hãy nhớ mang kèm tờ kê đơn của bác sĩ giải thích rõ công dụng, mục đích của loại thuốc ấy.

3. Được hút thuốc ở bên trong tất cả quán xá nhưng không được hút thuốc ngoài đường



Nhật Bản có giá bán lẻ thuốc lá vào loại rẻ nhất trên thế giới, vì vậy việc người Nhật phì phèo điếu thuốc trên tay không hiếm gặp. Phần lớn các quán ăn, quầy bar từ nhỏ đến sang trọng đều cho phép khách hàng được hút thuốc trong không gian nhà hàng, và chỉ bên trong mà thôi. Theo tờ JapanTimes, một số điều luật mới được ban hành ở quốc gia này cấm việc người dân hút thuốc bên ngoài ở các thành phố lớn. Các quán ăn, nhà hàng giờ cũng bắt đầu xây dựng khu vực riêng cho những người hút thuốc và không hút thuốc. Vì thế, bạn đừng nghĩ rằng có thể cầm điếu thuốc lá đi tung tẩy từ trong quán ra ngoài đường, khả năng bị phạt là rất cao đấy.

4. Uống rượu trên đường phố là hợp pháp


Không giống như nhiều quốc gia khác đang từ hạn chế đến cấm đoán việc uống rượu bừa bãi ngoài đường phố hoặc nơi công cộng, Nhật Bản cho phép người dân được sử dụng đồ uống có cồn ngay cả khi không phải trong nhà hàng, quán ăn. Bằng chứng là có rất nhiều máy bán hàng tự động có bán bia và rượu sake đặt ngoài đường, cũng như người Nhật có một lễ hội tên Hanami, ở đó mọi người sẽ tụ tập dưới gốc cây anh đào để ngắm hoa, thưởng rượu. 

Tuy nhiên, lạt mềm thì buộc chặt, đã cho uống thoải mái thì phải có trách nhiệm, đừng mượn rượu làm càn, "hóa thú", phá làng phá xóm là được.

( Nguồn: B.I)